Hoàn thiện chính sách tài chính phát triển thị trường khoa học công nghệ ở Việt Nam

Chính sách tài chính cho phát hành hoạt động trao đổi khoa học và kĩ nghệ

Ngày 8/11/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2075/QĐ-TTg ưng chuẩn Chương trình phát hành hoạt động trao đổi khoa học và kĩ nghệ (KHCN) tại vn đến năm 2020. Phát triển hoạt động trao đổi KHCN là một thế tất khách quan trong nền kinh tế hoạt động trao đổi và là một trong những nội dung trọng tâm của chiến lược phát hành của mỗi quốc gia.

Thị trường KHCN có 5 nguyên tố căn bản để hình thành bao gồm: Khung pháp lý cho các giao thiệp trên hoạt động trao đổi, bên mua, bên bán, cơ sở hình thành giá cả và các hoạt động hỗ trợ dịch vụ xúc tác giữa người mua và người bán.

Chính sách phát hành hoạt động trao đổi KHCN là cơ dè bỉu công do Nhà nước ban hành, đó là những hành động ứng xử của Nhà nước với những vấn đề nảy sinh trong quá trình xây đắp và phát hành hoạt động trao đổi KHCN, bao gồm chuỗi hệ thống các cơ dè bỉu hướng đến mục đích tạo động lực khuyến khích hoạt động trao đổi KHCN phát hành thỏa mãn nhu cầu KHCN trình độ cao của quần chúng. # và đề xuất phát hành tổ quốc. Chính sách tài chính cũng nằm trong chuỗi hệ thống các cơ dè bỉu được Nhà nước ban hành để thực hành mục đích này.

Chính sách tài chính cho hoạt động trao đổi KHCN là cơ dè bỉu của Nhà nước nhằm huy động, quản lý và sử dụng tiền tệ để phát hành hoạt động trao đổi KHCN theo các mục đích và định hướng phát hành của Nhà nước đặt ra. Nhà nước ban hành cơ dè bỉu tài chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích các nhân tố kinh tế ngoài Nhà nước tham dự đóng góp các nguồn tài chính cho phát hành hoạt động trao đổi KHCN, đồng thời, tạo cơ dè bỉu tài chính phù hợp lý cho hoạt động trao đổi KHCN, bảo đảm chất lượng và hiệu quả dịch vụ đề xuất phát hành kinh tế – xã hội (KT-XH) của quốc gia.

Tác động của các công cụ tài chính đến hoạt động trao đổi khoa học và kĩ nghệ

Về căn bản, tài chính có hai tính năng chi tiết như phân chia và kiểm tra giám sát. Hai tính năng này có công dụng hăng hái trong việc kích thích nền kinh tế phát hành, góp phần khơi dậy và phóng thích nguồn lực trong xã hội, nâng cao hiệu quả mọi hoạt động KT-XH. Để thực hành hai tính năng trên, người ta thường phải sử dụng đến các công cụ tài chính để thúc đẩy đến đối tượng quản lý nhằm đạt được những mục đích KT-XH đã định trước. Các công cụ tài chính phổ thông gồm:

Thứ nhất, về chi ngân sách quốc gia (NSNN): Việc phân chia và sử dụng quỹ NSNN nhằm bảo đảm thực hành các tính năng, nhiệm vụ của Nhà nước theo những nguyên lý nhất quyết. Đây là công cụ tài chính căn bản được sử dụng để phân chia, sử dụng quỹ tiền tệ tụ phù hợp của Nhà nước cho từng hoạt động, thuộc tính năng của Nhà nước trên cơ sở luật định.

Thông qua chi NSNN, Nhà nước cung cấp kinh phí để đầu tư cho các lĩnh vực, trong đó có chi đầu tư để phát hành nghiên cứu khoa học (NCKH) cũng như hoạt động trao đổi KHCN. Chi NSNN có thúc đẩy lớn và tác động trực tiếp đến mọi hoạt động của lĩnh vực này, chi tiết gồm:

– Chi NSNN đầu tư cho hoạt động trao đổi kĩ nghệ được Để ý vào lĩnh vực trung tâm xây đắp cơ sở vật chất – kỹ thuật và đầu tư có chiều sâu cho hoạt động nghiên cứu và phát hành, thực hành nghiên cứu vận dụng nhằm cung cấp item kĩ nghệ cho hoạt động trao đổi.

– Chi NSNN thúc đẩy trực tiếp đến hoạt động của đơn vị KHCN công lập để nghiên cứu tạo ra item kĩ nghệ, phục vụ đề xuất của Nhà nước. Mặt khác, Nhà nước cấp kinh phí cho các đơn vị KHCN công lập để “đặt hàng” mua hàng hóa, dịch vụ (duyệt đơn đặt hàng) nhằm phục chuộc lợi ích công cộng của Nhà nước.

– Chi NSNN tụ phù hợp vào việc tạo không gian để thúc đẩy hoạt động sáng tạo và thay đổi kĩ nghệ; thực thi và bảo vệ quyền choán hữu trí não (SHTT), bảo vệ quyền và lợi ích phù hợp lí của cá nhân, đơn vị tham dự vào hoạt động trao đổi kĩ nghệ; chi đầu tư cho đề tài, đề án, chương trình thiết thực thúc đẩy đến phát hành hoạt động trao đổi kĩ nghệ; xây đắp hàng ngũ nguồn nhân công chất lượng cao…

– Thông qua công cụ chi NSNN để thực hành đơn vị hoạt động thúc đẩy hoạt động trao đổi kĩ nghệ, đơn vị “chợ kĩ nghệ” để tăng giá trị giao thiệp trao đổi các item, dịch vụ KHCN.

Như vậy, chi NSNN thúc đẩy đến việc thúc đẩy tăng nguồn cung, nhu cầu kĩ nghệ, tăng sự gắn kết cung – cầu kĩ nghệ cũng như việc chuyển giao kĩ nghệ trên hoạt động trao đổi.

Thứ hai, về thuế: Thuế là công cụ tài chính được Nhà nước sử dụng để huy động một phần tài sản xã hội từ các chủ thể KT-XH hội khác vào trong tay Nhà nước. Thông qua các cơ dè bỉu thuế ứng dụng sẽ có thúc đẩy khuyến khích hoặc hạn dè bỉu các chủ thể KT-XH đầu tư phát hành cho các hoạt động thúc đẩy. Chính vì vậy, công cụ thuế sẽ thúc đẩy mạnh đến việc khuyến khích hay hạn dè bỉu sự phát hành của hoạt động trao đổi KHCN. Một số thúc đẩy của công cụ này cần phải đề cập đến như:

– Thuế có tác động trực tiếp đến hoạt động của các đơn vị (DN), đơn vị KHCN; thúc đẩy đến các lĩnh vực như choán hữu trí não; chuyển giao kĩ nghệ; các dịch vụ về thông báo, tham vấn, tập huấn, bồi bổ; phổ thông, vận dụng thành quả KHCN trong các lĩnh vực KT – XH. Việc miễn, giảm thuế đúng mực đối với hoạt động trao đổi kĩ nghệ duyệt việc tạo cung, kích cầu và tạo không gian lành mạnh, góp phần thúc đẩy nhanh sự phát hành của hoạt động trao đổi kĩ nghệ.

– Các cơ dè bỉu ưu đãi thuế đối với hoạt động trao đổi kĩ nghệ gồm: Ưu đãi duyệt thuế suất; Áp dụng các quy định làm giảm căn cứ tính thuế; Áp dụng cơ dè bỉu miễn giảm thuế. Khi ứng dụng các cơ dè bỉu ưu đãi về thuế bản tính là cơ dè bỉu cấp phát vốn gián tiếp cho các DN, đơn vị KHCN, tạo điều kiện cho các DN, đơn vị KHCN có thêm vốn đầu tư cho nghiên cứu và phát hành kĩ nghệ (tạo cung) hoặc để buôn bán kĩ nghệ mới (kích cầu).

Ngoài ra, luận án đã phân tách rõ thúc đẩy của từng dung nhan thuế giá trị ngày càng tăng, thuế thu nhập đơn vị, thuế thu nhập cá nhân, thuế xuất nhập cảng đến việc phát hành từng nguyên tố của hoạt động trao đổi kĩ nghệ.

Thứ ba, về tín dụng: Một bên cho vay cung cấp nguồn tài chính cho bên đi vay, trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theo một khoản tiền lãi. Bản chất của tín dụng là trình bày mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo dựng và sử dụng quỹ tín dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu về vốn nhất thời của chủ thể, để dịch vụ hoạt động sinh sản kinh doanh và theo nguyên lý hoàn trả, trong đó có việc cung cấp tài chính để phát hành hoạt động trao đổi KHCN, biểu lộ như sau:

– Tín dụng có thể phục vụ nhu cầu về vốn kịp thời cho các cho các đơn vị, cá nhân, DN phát hành kĩ nghệ cung ứng trên hoạt động trao đổi.

– Việc sử dụng nguồn vốn tín dụng thường nhật phải qua quá trình giám định. Vì thế, các DN, đơn vị KHCN phải sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả để phát hành hoạt động trao đổi KHCN.

– Chính sách lãi suất tín dụng là công cụ quan yếu khuyến khích các DN, đơn vị KHCN và cá nhân tính toán, nghiên cứu kỹ lưỡng về việc quyết định vay vốn nhiều hay ít, thời hạn vay và hoàn trả đúng theo giao kèo tín dụng.

Thứ tư, các quỹ đầu tư KHCN: Trong nền kinh tế hoạt động trao đổi, quỹ đầu tư được xem là một định dè bỉu tài chính trung gian phi nhà băng nhằm hấp dẫn tiền thanh nhàn từ các nguồn khác nhau để đầu tư vào nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau, bảo đảm lợi ích cho cả người đầu tư lẫn người nhận đầu tư.

Các quỹ KHCN là một trong những quỹ đầu tư chuyên sâu cho lĩnh vực KHCN trong đó có phát hành hoạt động trao đổi KHCN. Hiện nay, vn có 5 quỹ KHCN thúc đẩy đến phát hành các nguyên tố của hoạt động trao đổi kĩ nghệ, gồm các quỹ: Quỹ Phát triển KHCN Quốc gia (NAFOSTED); Quỹ Đổi mới kĩ nghệ quốc gia (NATIF); Quỹ Phát triển KHCN cấp bộ, tỉnh giấc, đô thị; Quỹ Phát triển KHCN của DN; Quỹ Khởi nghiệp DN KHCN vn (VSF).

Thực trạng các kênh huy động vốn cho phát hành hoạt động trao đổi khoa học, kĩ nghệ

Ngày 17/10/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định 95/2014/NĐ-CP quy định về đầu tư và cơ dè bỉu tài chính đối với hoạt động KHCN. Những điểm mới về cơ dè bỉu tài chính cho phát hành KHCN được quy định bổ sung tại Nghị định như: Áp dụng cơ dè bỉu khoán chi đến item rốt cục; Cấp kinh phí thực hành nhiệm vụ KHCN sử dụng NSNN duyệt chuỗi hệ thống Quỹ Phát triển KHCN; Buộc DN quốc gia màu năm phải trích từ 3% – 10% thu nhập tính thuế thu nhập DN để lập Quỹ Phát triển KHCN của DN.

Nghị định 95/2014/NĐ-CP nêu rõ, chi phát hành tiềm lực KHCN, đầu tư và hỗ trợ xây đắp cơ sở vật chất – kỹ thuật cho các đơn vị KHCN, không phân biệt nhân tố kinh tế theo các nội dung: Xây dựng mới, upgrade, đẩy mạnh năng lực nghiên cứu của các đơn vị KHCN; Xây dựng khu nghiên cứu và phát hành cho các khu kĩ nghệ cao; Xây dựng hạ tầng thông báo, cơ sở dữ liệu quốc gia và thống kê về KHCN; Các hoạt động đầu tư khác dịch vụ phát hành KHCN. Chi sự nghiệp KHCN gồm có: Chi thực hành các nhiệm vụ KHCN; Chi thường xuyên và các nhiệm vụ thường xuyên theo tính năng của các đơn vị KHCN công lập theo quy định luật pháp về cơ dè bỉu tự chủ, tự chịu nghĩa vụ của các đơn vị KHCN công lập; Tuyên truyền, phổ thông tri thức, hoạt động thông báo và thống kê KHCN…

Thực tế, những năm qua, Nhà nước chi cho KHCN vẫn bảo đảm ở mức chi tối thiểu 2% trong tổng chi NSNN (tương đương khoảng 0,5% GDP). Xét cả thời đoạn 2011 – 2015, tổng chi NSNN cho KHCN cao gấp 5,6 lần so với thời đoạn 2001 – 2005 và gấp 2,2 lần so với thời đoạn 2006 – 2010.

Chi NSNN giữ vai trò chủ quản (choán khoảng 60%), trong đó chi cho nghiên cứu và phát hành choán khoảng 35 – 40% tổng số đầu tư cho KHCN (đạt khoảng 0,18 – 0,2% của 0,5% GDP). Nếu so sánh với các quốc gia trên trái đất thì tỷ trọng chi quốc gia cho nghiên cứu và phát hành trên GDP của vn còn thấp. Với tiềm lực NSNN hạn dè bỉu nên chi NSNN cho hỗ trợ thay đổi kĩ nghệ còn khiêm tốn. Vì vậy, nhu cầu thay đổi kĩ nghệ của đơn vị cá nhân thấp.

Đối với hoạt động hỗ trợ phát hành dịch vụ trung gian, Bộ KHCN đã phối phù hợp với các bộ/tỉnh giấc/đô thị trực thuộc Trung ương đơn vị được nhiều kỳ Techmart với diện tích quốc gia, quốc tế, vùng. Nếu tính cả kĩ nghệ, thiết bị được giao thiệp duyệt các Hội chợ thì tổng giá trị các giao kèo trao đổi kĩ nghệ ước tính đạt khoảng 20.000 tỷ đồng (tương đương khoảng 1 tỷ USD). Tuy nhiên, so với các nước trên trái đất, vn vẫn còn kém về chừng độ và số lượng của các loại hình dịch vụ KHCN.

Việc phân bổ NSNN phát hành các nguyên tố của hoạt động trao đổi KHCN còn dàn trải và phân tán từ các bộ, ngành đến các địa phương và điều đó đang trở thành rào cản lớn, hạn dè bỉu phát hành nguồn cung kĩ nghệ trên hoạt động trao đổi. Việc phân bổ chưa bảo đảm theo những tiêu chí rõ ràng, thiếu cơ dè bỉu cạnh tranh sáng tỏ, phân tán nên hiệu quả đầu tư thấp, cơ dè bỉu tiền lương không cao, cơ sở vật chất thiếu hụt… thúc đẩy làm giam giữ phát hành của hoạt động trao đổi KHCN thời kì qua.

Các công cụ thuế cho thấy, chuỗi hệ thống văn bản luật pháp hiện hành đã có những ưu đãi nhất quyết về mặt cơ dè bỉu thuế dành cho hoạt động trao đổi kĩ nghệ. Tuy nhiên, trong thực tại hoạt động trao đổi vẫn chưa phát hành được như kỳ vọng. Cơ dè bỉu để tiếp cận nguồn vốn đầu tư nghiên cứu và phát hành kĩ nghệ còn nhiều gian nan do quy định vay vốn, hỗ trợ lãi suất hoặc bảo lãnh tín dụng còn nhiều bất cập.

Các quỹ KHCN cấp Quốc gia, tỉnh giấc/thành, bộ/ngành được sử dụng chính yếu là để tài trợ, cho vay với lãi suất ưu đãi, hỗ trợ lãi suất, bảo lãnh… đối với các đơn vị, cá nhân tham dự hoạt động phát hành kĩ nghệ. Thực tế, mức trích lập các quỹ còn thấp chưa đạt quy định. Ví dụ: Quỹ Phát triển KHCN quốc gia là 500 tỷ đồng nhưng mức trích thực tại cao nhất mới đạt 300 tỷ đồng. Quỹ Đổi mới kĩ nghệ quốc gia chưa bảo đảm mức tồn quỹ theo quy định là 1.000 tỷ đồng.

Ngoài các thành quả đã đạt được, đến này vẫn còn sống sót nhiều vấn đề trong việc sử dụng các công cụ tài chính trong các kênh dẫn vốn, để dịch vụ mục đích phát hành hoạt động trao đổi KHCN. Vì thế, cần có những biện pháp kịp thời nhằm thúc đẩy việc sử dụng hiệu quả các công cụ tài chính, huy động vốn cho việc phát hành hoạt động trao đổi KHCN.

Khuyến nghị đối với việc huy động vốn cho phát hành hoạt động trao đổi khoa học, kĩ nghệ

Trước bối cảnh hoạt động cách tân, chuyển đổi mô hình và cơ cấu tăng trưởng kinh tế của vn tiếp tục được tăng mạnh và hoàn thành theo hướng phát hành vững bền, từ tăng trưởng theo chiều rộng, dựa chính yếu vào lợi thế sẵn có như khoáng sản tự nhiên và cần lao trình độ thấp sang vỡ hoang các nguyên tố cạnh tranh trên cơ sở kĩ nghệ cao, nhân công chất lượng cao và tính đương đại của cơ sở hạ tầng KT-XH.

Đến năm 2020, thiết lập màng lưới sàn giao thiệp kĩ nghệ kèm theo chuỗi hệ thống đơn vị dịch vụ KHCN hỗ trợ, trọng tâm là TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội và Đà Nẵng. Để thực hành mô hình phát hành vững bền phải dựa vào phát hành KHCN, do đó cần tạo ra nhiều thời cơ cho KHCN và hoạt động trao đổi KHCN phát hành. Từ thực tại này, bài viết đề xuất một số biện pháp và khuyến nghị sau:

– Sử dụng các công cụ tài chính phải hướng vào việc tạo dựng và phát hành các nguyên tố của hoạt động trao đổi KHCN.

– Sử dụng các công cụ tài chính phải hướng đến mục đích rõ ràng và đẩy mạnh sự phối phù hợp giữa các công cụ tài chính nhằm thúc đẩy sự phát hành đồng bộ các nguyên tố của hoạt động trao đổi KHCN.

– Sử dụng các công cụ tài chính phải bảo đảm, từng bước giảm “bao cấp” NSNN đầu tư cho hoạt động trao đổi KHCN.

– Sử dụng các công cụ tài chính phải khuyến khích huy động tổng phù hợp các nguồn lực xã hội, khác biệt là các nguồn ngoài NSNN tham dự vào phát hành hoạt động trao đổi KHCN.

– Giai đoạn đến cần tăng chi NSNN đầu tư cho hoạt động trao đổi kĩ nghệ duyệt tăng tỷ trọng đầu tư cho KHCN từ nay đến năm 2020 để đạt tỷ trọng trên 2% tổng chi NSNN. Xác định lịch trình tăng ăn nhập với từng thời đoạn và sau năm 2020, nguồn ngoài NSNN là nguồn chính yếu đầu tư cho KHCN và hoạt động trao đổi kĩ nghệ nói riêng.

Giai đoạn đầu Để ý hơn vào nhập cảng kĩ nghệ để học hỏi, tích lũy tri thức, quy trình, bí quyết kĩ nghệ và khi có đủ vốn, tri thức cấp thiết thì chuyển hướng trọng tâm vào nghiên cứu căn bản để tự tạo nguồn kĩ nghệ nội sinh. Việc chi NSNN để nhập cảng kĩ nghệ cần Để ý đến việc Để ý chất lượng của kĩ nghệ, giảm thiểu việc gây ô nhiễm không gian.

– Mở rộng miễn thuế thu nhập DN cho các loại giao kèo KHCN: (1) Hợp đồng NCKH và phát hành kĩ nghệ; (2) Hợp đồng chuyển giao kĩ nghệ; (3) Hợp đồng dịch vụ KHCN (Hiện nay, việc miễn thuế TNDN chỉ ứng dụng đối với loại giao kèo loại (1), còn loại (2) và loại (3) không có sự ưu đãi nào).

– Thành lập được phòng ban chuyên trách giám định, kiểm tra định kỳ các đề tài, dự án trong lĩnh vực kĩ nghệ để lựa phương án đầu tư. Bộ KHCN phối phù hợp với các đơn vị tín dụng để hấp dẫn nguồn vốn vào những dự án đầu tư khả thi. Tuy nhiên, việc cho vay phải từ nguồn vốn trung và dài hạn với lãi suất phù hợp lý.

– Chính sách tín dụng của Quỹ Phát triển KHCN cấp bộ/tỉnh giấc/đô thị cần tăng mạnh hơn nữa việc giao quyền chủ động cho các Quỹ này trong hoạt động cho vay theo nguyên lý bảo đảm hiệu quả, Nhà nước chỉ cần kiểm tra giám sát duyệt chuỗi hệ thống chỉ tiêu lên tiếng định kỳ phối phù hợp với công việc thanh kiểm tra theo quy định.

Chính sách tín dụng của Quỹ thay đổi kĩ nghệ quốc gia cần tiếp tục phê chuẩn bổ sung các quy định thuận lợi hơn về các mặt lãi suất, điều kiện bảo lãnh, mở mang đối tượng được vay…

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Khoa học và Công nghệ (2013), Thông tư số 19/2013/TT-BKHCN ngày 15/8/2013 chỉ dẫn quản lý Chương trình hỗ trợ phát hành DN KHCN và đơn vị KHCN công lập thực hành cơ dè bỉu tự chủ, tự chịu nghĩa vụ;

2. Hồ Đức Việt (2010), Xây dựng, phát hành hoạt động trao đổi KHCN, NXB Chính trị quốc gia;

3. Phạm Thị Hà (2016), “Quỹ thay đổi kĩ nghệ Quốc gia với phát hành hoạt động trao đổi kĩ nghệ”, Tạp chí Nghiên cứu Tài chính Kế toán, số 06 (155) 2016, tr12-14;

4. Bùi Văn Khánh (2010), Huy động nguồn lực tài chính xây đắp kết cấu hạ tầng liên lạc đường bộ trên địa bàn tỉnh giấc Hoà Bình, Luận án tấn sĩ kinh tế, Học viện Tài chính;

5. Bùi Tiến Hanh, Phạm Thị Hoàng Phương (2016), Giáo trình Quản lý Tài chính công, Học viện Tài chính;

6. Cochran, I. et al. (2014), “Public Financial Institutions and the Low-carbon Transition: Five Case Studies on Low-CarbonInfrastructure and Project Investment”, OECD Environment Working Papers, No. 72, OECD Publishing.