Hoàn thiện pháp luật về góp vốn bằng nhãn hiệu hàng hóa tại Việt Nam

Góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu hàng hóa

Khác với những của cải thường nhật, nhãn hiệu hàng hóa là một của cải khác lạ – của cải vô hình, mà giá trị vật chất và tinh thần của nó không dễ ợt xác định được. Vấn đề góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu hàng hóa không phải là một hiện tượng kinh tế mới, song các vấn đề pháp lý như: Góp như thế nào, định giá như thế nào, cơ giễu cợt bảo đảm giá trị vốn góp và ngay cả việc phù hợp nhất vấn đề trên giữa các cơ quan quản lý cũng đang đặt ra không ít gian khổ, thử thách.

Theo Vũ Tuấn Anh (2012), góp vốn là vấn đề chủ chốt trong hoạt động kinh doanh. Xét về mặt pháp lý, góp vốn là hành vi pháp lý mà theo đó người góp vốn chuyển giao quyền sở hữu của cải của mình cho người kinh doanh để đổi lại những lợi ích từ việc góp vốn. Thực tế, việc góp vốn hay hùn vốn là việc nhiều người cùng góp nguồn lực của mình để tạo nên một nguồn lực thông thường lớn hơn nhằm thực hành ý nghĩ đó kinh doanh mang lại mục đích sau rốt là lợi nhuận.

Ngô Huy Cương (2006) cho rằng: “Tài sản là một phạm trù động mà khuôn khổ của nó có thể đổi thay theo các thời đoạn phát hành kinh tế – xã hội nhất mực”. Nhãn hiệu hàng hóa là một nhánh thuộc định nghĩa của cải nên cũng có thông thường thuộc tính như vậy, cũng sẽ hình thành nhiều dạng giễu cợt độ nhãn hiệu hàng hóa mới hình thành trong ngày mai.

Ở thời kỳ sở hữu bầy tớ, xã hội chưa hình thành định nghĩa sở hữu trí óc, quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp hay giá trị thương hiệu. Ngày nay, những định nghĩa này hình thành nhiều và phổ thông hơn trên trái đất. Trong những thương vụ mà đối tượng chuyển giao là kiến thức, danh tiếng, lợi quyền… chẳng những phát hành mà còn đem lại rất nhiều lợi nhuận, khác lạ là các sáng giễu cợt ứng dụng trong khoa học, y tế, kỹ thuật.

Trong khoa học pháp lý đương đại, những đối tượng đó tuy hình thành với dạng giễu cợt độ mới nhưng bản tính lại chính là quyền của cải hay nói cách khác, chúng là của cải vô hình. Về căn bản, của cải vô hình là của cải không có đặc tính vật lý, có thể chuyển giao, phá hoang giá trị sử dụng và trị giá được bằng tiền. Tài sản vô hình bao gồm: Quyền đối vật (vật quyền); quyền đối nhân (trái quyền) và quyền sở hữu trí óc. Theo Ngô Huy Cương (2015), hiện tại, pháp luật dân sự một số quốc gia còn xem lợi ích, thông báo là của cải.

Nhãn hiệu được sử dụng rộng tãi từ lâu trên trái đất và tại vn. Đây là định nghĩa được chuẩn hóa trong luật vn và quốc tế. Theo định nghĩa của Tổ chức Sở hữu trí óc trái đất (WIPO) thì nhãn hiệu là “các dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự của các cơ sở sinh sản, kinh doanh khác nhau”.

Cùng với sự phát hành của kinh tế hàng hóa, nhãn hiệu dần trở thành một đối tượng có giá trị và chi tiết hơn là một của cải vô hình quan yếu của nhà sinh sản, giúp làm tăng sức cạnh tranh của hàng hóa mang nhãn hiệu. Nhu cầu xác lập và bảo hộ quyền đối với nhãn hiệu cũng trở thành cấp thiết.

Các quy định trước hết về đăng ký và bảo hộ nhãn hiệu ra đời tại Hoa Kỳ khoảng nửa cuối thế kỷ 18. Luật Nhãn hiệu trước hết của Pháp có hiệu lực năm 1857 và sau đó là của Anh năm 1862. Cho đến nay với sự phát hành mạnh mẽ của nền kinh tế trái đất, hồ hết các nước trên trái đất đều có luật hoặc các quy định pháp lý bảo hộ nhãn hiệu.

Các hiệp ước quốc tế quy định các nguyên lý thông thường về đăng ký và bảo hộ nhãn hiệu trên khuôn khổ toàn cầu cũng được ký kết, điển hình là Công ước Paris về bảo hộ Sở hữu công nghiệp, Hiệp định về các góc cạnh tương tác đến thương nghiệp của quyền sở hữu trí óc của WTO…

Các liên minh đa quốc gia tạo thuận lợi cho việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu trong từng khu vực chi tiết hoặc toàn cầu cũng được thiết lập, điển hình là chuỗi hệ thống Nhãn hiệu Cộng đồng châu Âu, các công ty đăng ký thông thường nhãn hiệu khu vực châu Phi như Tổ chức Sở hữu trí óc khu vực châu Phi và Tổ chức Sở hữu trí óc Liên minh châu Phi.

Văn phòng nhãn hiệu Benelux (gồm Bỉ, Hà Lan, Luxemburg)… và điển hình là Hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu Madrid do WIPO quản trị, bao gồm đến nay là 90 quốc gia thành viên trải rộng trên cả 5 châu lục.

Nhãn hiệu có thể được chia thành từ các dấu hiệu truyền thống là các chữ, chữ số, dấu hiệu hình, màu sắc hoặc kết phù hợp của chúng. Tuy nhiên, với sự phát hành mạnh mẽ của công nghiệp và các công cụ truyền thông hiện giờ, pháp luật nhiều nước cũng đã chấp thuận bảo hộ nhãn hiệu là các đối tượng mới, bao gồm các dấu hiệu âm thanh, clip hình ảnh động, hình chuyển đổi theo góc nhìn, thậm chí cả mùi, vị và cảm giác.

Hiện nay, các nhãn hiệu của vn và nhiều nước đang phát hành khác chỉ mới chấp thuận bảo hộ các nhãn hiệu ở dạng truyền thống. Với việc vn trở thành thành viên của WTO, số lượng nhãn hiệu xin đăng ký tại vn của người vn và nước ngoài ngày một tăng. Hiện nay, mỗi năm có khoảng 35.000 nhãn hiệu xin đăng ký tại vn, trong đó 2/3 là nhãn hiệu của các DN trong nước, đưa vn vào tốp đầu trong các nước Đông Nam Á về số nhãn hiệu xin đăng ký trong một năm.

Do tác dụng của nhãn hiệu là phân biệt hàng hoá dịch vụ của các nhà sinh sản, cung ứng khác nhau nên một DN có thể sử dụng và đăng ký bảo hộ cho một hoặc nhiều nhãn hiệu khác nhau thích phù hợp với nhu cầu kinh doanh từng chủng loại hàng hóa và từng khu vực chi tiết, miễn là chúng dịch vụ các tiêu chuẩn theo luật định.

Có nhiều doanh nghiệp xuyên quốc gia sở hữu đến một số trăm nhãn hiệu độc quyền. Điều này lý giải vì sao có đến hơn 5 triệu nhãn hiệu được nộp đơn xin đăng ký tại các quốc gia trên toàn trái đất. Từ các định nghĩa trên có thể thấy, bản tính của góp vốn bằng nhãn hiệu hàng hóa là việc người góp vốn chuyển giao những quyền của cải (nhãn hiệu hàng hóa) của mình cho người kinh doanh (thương nhân) để đổi lại những lợi ích từ việc góp vốn.

Thông qua hành vi góp vốn, mối quan hệ pháp lý được tạo dựng, người góp vốn có bổn phận phải chuyển giao những quyền của cải của mình sang cho thương nhân. Việc dịch chuyển quyền sở hữu này có thể được thực hành ưng chuẩn giao ước giao kèo thành lập doanh nghiệp của các cũ rích đông, thành viên góp vốn.

Theo Ngô Huy Cương (2004), bằng hành vi góp vốn các thành viên, các cũ rích đông sáng lập đã tạo ra sản nghiệp ban sơ cho doanh nghiệp để đổi lại lợi quyền của mình trong doanh nghiệp. Đặc điểm của góp vốn bằng nhãn hiệu hàng hóa cũng dựa trên đặc tính phi vật lý của của cải. Đó là việc chuyển giao sẽ chẳng thể xảy ra nếu không tạo dựng một giễu cợt độ vật chất nhằm chứa đựng giá trị của cải đem góp vốn.

Thực trạng pháp luật về bằng nhãn hiệu hàng hóa tại vn

Pháp luật vn quy định về góp vốn kinh doanh bằng nhãn hiệu hàng hóa hiện giờ đã có nhiều bước phát hành so với trước đó. Sự ra đời của Hiến pháp 2013, Luật DN 2014 và Bộ Luật dân sự 2015, được coi là nền móng trực tiếp chứa đựng những quy bất phù hợp lí lý căn bản nhất của vấn đề này.

Tuy nhiên, do sự không rõ ràng trong lĩnh vực này đã tác động không nhỏ đến hoạt động góp vốn kinh doanh trong xã hội của cộng đồng DN. Hiện tại chưa có sự đồng thuận giữa các cơ quan quản lý quốc gia trong việc quy định về vốn góp bằng giá trị nhãn hiệu hàng hóa.

Một trong những căn nguyên của hiện tượng trên là do các cơ quan sở quan chưa tìm ra ngôn ngữ thông thường, chưa chỉ rõ bản tính của việc góp vốn kinh doanh bằng của cải là giá trị nhãn hiệu hàng hóa, và cũng chưa có một nghiên cứu vừa đủ, trọn vẹn về nội dung trên. Để có thể tò mò sâu hơn, chúng ta cần nghiên cứu những quy định chi tiết của các giễu cợt định này.

Thứ nhất, sự khuyết điểm về định nghĩa của cải là nhãn hiệu hàng hóa và những lỗi lập pháp về giễu cợt định của cải.

Khái niệm của cải là nhãn hiệu hàng hóa không được hình thành trong các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực nền móng của chuỗi hệ thống luật như Bộ luật Dân sự 2005 và tuồng như các nhà lập pháp vẫn thông thường tình với sự dễ chơi hóa từ ngữ nghĩa về của cải trong Bộ luật Dân sự 2015: “Tài sản là vật, tiền giấy có giá và quyền của cải”.

Cách định nghĩa này không nêu lên ý nghĩa của từ và cụm từ cần định nghĩa mà nó giống với cách liệt kê các sự vật mà định nghĩa đó ám chỉ. Tuy nhiên, với kiểu liệt kê như trên, các nhà làm luật vn lại “giẫm chân lên nhau” bởi trong khoa học pháp lý, giấy má có giá bản tính là một trái quyền. Còn tiền, trong kinh tế được hiểu là vật ngang giá dùng để đàm đạo thì trong luật học lại có bản tính pháp lý là vật.

Để phân loại của cải, Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015 đã chia của cải ra các loại như sau: “Tài sản bao gồm BĐS và động sản”. Bất động sản và động sản có thể là của cải hiện có và của cải hình thành trong ngày mai. Cách phân loại này thừa hưởng kỹ thuật phân loại của Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804.

Tuy nhiên, ở nhánh thứ 2, các nhà làm luật không sử dụng các nguyên tố “đặc tính vật lý” để chia thành tài vô hình, trong đó có nhãn hiệu hàng hóa và của cải hữu hình (như Bộ luật Dân sự Quebec – Canada) mà họ lại sử dụng nguyên tố “thời điểm sinh tồn” để chia thành “của cải hiện có” và “của cải hình thành trong ngày mai”. Cách phân loại này về logic còn thiếu một nhánh, đó là “của cải biến mất trong ngày mai”.

Thứ hai, các quy định của pháp luật về định giá nhãn hiệu hàng hóa góp vốn.

Trên thực tại, hoạt động định giá của cải góp vốn, khác lạ là nhãn hiệu hàng hóa để tìm được sự tán thành cho việc xác định giá của cải không hề dễ chơi. Do đó, nhằm bảo đảm việc hạn giễu cợt các tác động có thể xảy ra với người thứ ba trong các hành vi giữa các bên, thì việc định giá của cải cần phải có sự kết phù hợp với những người có thẩm quyền để đi đến mức giá chi tiết.

Pháp luật quy định rằng, việc định giá của cải phải đề đạt chuẩn xác về hiện trạng của cải mà nhà đầu tư thấy rõ là phù hợp lý, bảo đảm không gây ra tranh chấp. Nguyên tắc định giá của cải vốn góp mà Luật DN đề ra suy cho cùng cũng là trên cơ sở bảo đảm lợi quyền cho nhà đầu tư, cho DN kết nạp vốn và các bên thứ ba.

Tất cả thành viên là người định giá của cải vốn góp. Một công ty định giá chuyên nghiệp có thể có thẩm quyền định giá theo đề nghị của các thành viên, song làm thế nào để đạt được đúng theo nguyên lý nhằm không gây ra tranh chấp thì chưa có quy định chi tiết.

Theo quy định của pháp luật, việc định giá của cải góp vốn ở hai thời điểm thành lập DN và khi DN đang hoạt động chỉ khác nhau ở thẩm quyền định giá còn bổn phận và chu trình định giá là hoàn toàn giống nhau. Những người có thẩm quyền có thể sẽ trực tiếp tiến hành hoặc thuê những doanh nghiệp kiểm toán hay các công ty kinh tế có tác dụng định giá của cải.

Nếu những người có thẩm quyền trực tiếp định giá của cải góp vốn thì họ phải thành lập Hội đồng định giá. Tùy thuộc vào thời điểm của cải được đem góp vào doanh nghiệp, nguyên tố Hội đồng định giá sẽ khác nhau. Trong quá trình hoạt động, Hội đồng định giá được ứng dụng cho ba loại hình doanh nghiệp cũ rích phần, doanh nghiệp bổn phận, doanh nghiệp phù hợp danh tuần tự là Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên và tất cả các thành viên phù hợp danh.

Quyết định giá trị của cải góp vốn sẽ được hội đồng quản trị doanh nghiệp cũ rích phần, Hội đồng thành viên doanh nghiệp bổn phận hữu hạn, tất cả các thành viên phù hợp danh doanh nghiệp phù hợp danh trao đổi trong cuộc họp. Việc định giá của cải để kết nạp thành viên đồng nghĩa với sửa đổi Điều lệ chỉ được ưng chuẩn khi dịch vụ được tỷ luật lệ định. Luật cũng quy định doanh nghiệp có thể thuê công ty định giá chuyên nghiệp để định giá của cải góp vốn. Quy định của Luật DN về thẩm quyền định giá đã tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp định giá của cải góp vốn.

Đối với trường phù hợp doanh nghiệp tự tiến hành định giá của cải góp vốn, tất cả thành viên liên đới chịu bổn phận về giá trị của cải. Họ phải cùng thỏa thuận để định đoạt giá trị của của cải góp vốn. Khi xảy ra việc của cải góp vốn được định giá cao hơn so với giá trị thực tại của nó tại thời điểm góp vốn, theo quy định của Luật DN, cả người góp vốn và người định giá phải góp đủ số vốn như đã được định giá.

Đây là một quy định cần được phê chuẩn trên cả hai bình diện: (i) Các bên đã không tinh thần được giá trị thực của của cải; (ii) Các bên đã cố tình định giá cao hơn giá trị thực tại. Dù ở trường phù hợp nào, khi gây ra thiệt hại cho người khác thì vẫn phải đặt ra bổn phận bồi hoàn. Tuy nhiên, Luật DN chưa xác định rõ tỷ trọng bổn phận bồi hoàn giữa bên góp vốn và người định giá trong vấn đề này, vì điều đó mà tranh chấp có thể xảy ra.

Thứ ba, hạch toán “vốn” nhãn hiệu vào đâu?

Nói về nhãn hiệu hàng hóa, rõ ràng cùng một nhãn hiệu nhưng tại các DN khác nhau lại được ghi nhận giá trị vốn góp khác nhau. Có vẻ như việc áp giá giá trị này mang tính chủ quan, mà theo quan điểm của các kiểm toán viên, đây là việc ghi nhận giá trị vô hình do nội bộ tạo ra là của cải.

Vậy ai là người có thể định giá chính xác nhãn hiệu hàng hóa trong trường phù hợp này và tác dụng của việc “gắn mác” nhãn hiệu trên tên DN giúp DN có những lợi ích chi tiết gì, định lượng bao nhiêu so với việc thiếu cái tên đó? Đáng chú ý, đến đây, có tính phần vốn góp bằng nhãn hiệu của DN hay không? Giá trị là bao nhiêu?

Tuy nhiên, trong phần chú ý về việc góp vốn của cũ rích đông bằng giá trị nhãn hiệu, năm 2007, kiểm toán viên “chú ý người đọc” nhưng năm 2008 thì không. Điều này khiến những người quan tâm đặt câu hỏi, liệu cách ghi nhận khác nhau của các DN và “bên lề” quy định pháp lý như vậy có tác động đến góc nhìn của nhà đầu tư về DN hay không?

Nhiều quan điểm cho rằng, việc chấp thuận góp vốn bằng nhãn hiệu hàng hóa hiện không bị cấm và thực tại nếu các cũ rích đông chấp thuận nó thì nên được cơ quan quản lý chuẩn y. Tuy nhiên, nếu chấp thuận việc góp vốn bằng nhãn hiệu và ghi nhận giá trị nhãn hiệu góp vốn là của cải nhất thiết vô hình thì không phù hợp lý.

Hãy đặt câu hỏi giá trị nhãn hiệu này có được định giá phù hợp lý không?Ai xác minh được giá trị này? Nó mang lại lợi ích chi tiết gì cho DN? Nếu chấp thuận coi nhãn hiệu là giá trị của cải góp vốn thì DN có thể nghĩ ra nhiều cách để lách thuế, như đẩy phần vốn góp bằng giá trị nhãn hiệu lên cao.

Thực tế, góp vốn bằng nhãn hiệu đã được thực hành khá nhiều tại các DN được cũ rích phần hóa. Trong nhiều trường phù hợp, giá trị nhãn hiệu của doanh nghiệp mẹ “áp” cho doanh nghiệp con khá lớn, không chỉ dừng lại ở một số trăm triệu đồng hay một đôi tỷ đồng. Nhưng với những trường phù hợp này, nhiều phần là được “đặc cách”! Vấn đề là, cùng ghi nhận phần giá trị nhãn hiệu vào vốn góp của chủ sở hữu, song mỗi DN lại ghi nhận một kiểu, mỗi doanh nghiệp kiểm toán lại phản hồi một cách.

Một số kiến nghị

Tại vn, việc góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu hàng hóa đang gặp gỡ những vướng mắc không nhỏ, căn nguyên cốt tử là do thiếu sự phù hợp nhất, khi thực thi pháp luật trong việc góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu hàng hóa. Trong khi, nhiều văn bản luật công nhận việc góp vốn bằng giá trị nhãn hiệu hàng hóa, một số văn bản chỉ dẫn thực hành lại không công nhận nội dung trên.

Về góc cạnh pháp lý, việc không ghi nhận giá trị vốn góp bằng nhãn hiệu hàng hóa như là sự đi trái lại quy định của văn bản luật. Do đó, cấp thiết phải có quy định rõ ràng, chi tiết trong vấn đề trên và khác lạ là phải có sự phù hợp nhất giữa các văn bản pháp luật. Do vậy, về mặt pháp lý, trong thời kì đến, cần bổ sung một số nội dung sau:

Một là, cần đưa ra quy định nhằm làm rõ định nghĩa nhãn hiệu hàng hóa. Việc định nghĩa của cải như Điều 105 của Bộ luật Dân sự năm 2015 đã tạo ra sự cứng nhắc trong định nghĩa về của cải. Không chỉ vậy, quy định Điều 115 của Bộ luật Dân sự 2015 về quyền của cải lại càng khiến cho bản tính pháp lý của những nhãn hiệu hàng hóa dễ bị lầm lẫn.

Trên thực tại, quyền của cải có thể được coi là vật quyền, trái quyền và quyền sở hữu trí óc, vì vậy việc cắt nghĩa như Bộ luật Dân sự hiện hành hoàn toàn là không dựa trên nền móng một triết lí pháp lý nào. Bên cạnh đó, của cải là một định nghĩa động và nó không thuần tuý có ý nghĩa pháp lý, mà còn có cả ý nghĩa lớn về kinh tế.

Nó luôn đổi thay bởi giá trị kinh tế của mình, vì vậy, việc ấn định cho quyền của cải (mà ở đây là nhãn hiệu hàng hóa) một định nghĩa cứng nhắc là một khuyết điểm và không vừa đủ. Do đó, cần xây đắp lại quy định về nhãn hiệu hàng hóa cho thích phù hợp với khoa học pháp lý và thực tiễn trong cuộc sống.

Hai là, cần bổ sung quy định về phần định giá vốn góp là các quyền của cải. Pháp luật vn hiện giờ chưa quy định về vấn đề khi DN vỡ nợ, nếu của cải định giá sai thì lợi quyền của các chủ nợ sẽ giải quyết như thế nào và ai sẽ là người đứng ra chịu về phần định giá sai này?

Vì vậy, Luật DN cần phải dự liệu thêm trường phù hợp này để cho các cũ rích đông, thành viên, công ty định giá và cả chủ nợ biết được quyền và lợi ích của mình sẽ được thực hành như thế nào. Ngoài ra, về phần định giá của cải đối với những nhãn hiệu hàng hóa cũng cần được pháp luật quy định chi tiết những đối tượng nào có thể định giá được đối với loại của cải này. Vì loại của cải này yên cầu trình độ chuyên môn cao để có thể định giá một cách chính xác, tránh tình trạng làm tác động đến lợi quyền của các bên.

Ba là, cần bổ sung quy định về chuyển nhượng sản nghiệp thương nghiệp. Việc định giá sản nghiệp thương nghiệp khá tinh vi, nên cần sử dụng cả phương pháp định nghĩa thể hiện các đặc trưng cốt tử và cả phương pháp liệt kê. Điều 5 Luật Thương mại năm 1997 định nghĩa: “Sản nghiệp thương nghiệp là tổng thể của cải thuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng phù hợp lí của thương nhân, dịch vụ cho hoạt động thương nghiệp như trụ sở, khu chợ, kho tàng, trang thiết bị, hàng hóa, tên thương nghiệp, đại dương hiệu, nhãn hiệu hàng hóa, màng lưới tiêu thụ hàng hóa và cung ứng dịch vụ”, vấn đề này đã bị lược bỏ trong Luật Thương mại năm 2005).

Mặc dù, định nghĩa về sản nghiệp thương nghiệp đã từng được quy định, nhưng các luật lệ về chuyển nhượng, cho thuê hay cầm cố, thế chấp và góp vốn bằng sản nghiệp thương nghiệp chưa được pháp luật thiết lập. Bên cạnh đó, định nghĩa trên chưa làm rõ được các nguyên tố quan yếu nhất của sản nghiệp thương nghiệp.

Các nguyên tố đó không phải là các nguyên tố hữu hình, mà là các nguyên tố vô hình trong sản nghiệp thương nghiệp. Chỉ khi xác định được rõ sản nghiệp thương nghiệp, người ta mới có thể thiết lập các luật lệ chi tiết về thuê hay chuyển nhượng sản nghiệp thương nghiệp. Là một của cải khôn cùng nhiều đặc thù, do vậy, việc cho thuê hay bán sản nghiệp thương nghiệp cần có một chuỗi hệ thống các luật lệ riêng, khác với chuỗi hệ thống luật lệ ứng dụng đối với thuê mướn hay các của cải khác.

Việc không quy định hay quy định không vừa đủ về vấn đề này, gây tác động rất lớn đến chuyển nhượng sản nghiệp thương nghiệp khái quát và giễu cợt độ góp vốn bằng sản nghiệp thương nghiệp nói riêng.

Bốn là, cần nghiên cứu để quy định về thu thuế đối với việc góp vốn bằng quyền sở hữu trí óc vào sinh sản, kinh doanh. Việc không thu thuế đối với hoạt động này đã tạo cơ giễu cợt để một số cá nhân, công ty muốn trốn thuế chuyển quyền sở hữu trí óc bằng cách bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng cùng đứng ra thành lập DN, trong đó, bên chuyển nhượng là người nhận góp vốn bằng quyền sở hữu trí óc.

Sau khi được cấp Giấy chứng thực đăng ký kinh doanh, bên chuyển nhượng sẽ làm thủ tục chuyển nhượng phần vốn góp đó cho bên nhận chuyển nhượng với nhân cách thành viên DN và sau đó kết thúc hoạt động của DN. Do đó, nếu thu thuế (với mức thuế ứng dụng đối với người chuyển nhượng quyền sở hữu trí óc) thì vừa tránh được việc trốn thuế của một số cá nhân, công ty; vừa tạo ra được một nguồn thu không nhỏ cho ngân sách quốc gia.

Luật DN ghi rõ là được phép góp vốn bằng của cải mang thuộc tính là sở hữu trí óc, nghĩa là pháp luật công nhận điều này nên chúng ta cần có hành lang pháp lý, hay những công ty định giá công minh để DN có thể hạch toán được của cải và được xác nhận. Tuy nhiên, vướng mắc trong chuẩn mực kế toán hiện giờ vẫn là nút thắt mà rất nhiều DN mong mỏi được giải quyết.

Theo đó, cần ban hành một văn bản quy phạm pháp luật công nhận nhãn hiệu là một của cải vô hình của DN và chỉ dẫn cách xác định giá trị nhãn hiệu vào bảng phẳng phiu kế toán của DN. Đó là cơ sở pháp lý để góp vốn liên doanh, liên kết, hiệp tác kinh doanh, nhượng quyền thương nghiệp… bằng giá trị nhãn hiệu hàng hóa.

Tài liệu tham khảo:

1. Quốc hội (2015), Bộ Luật Dân sự 2015;

2. Quốc hội (2014), Luật Doanh nghiệp 2014;

3. Quốc hội (2013), Luật Sở hữu trí óc 2013;

4. Vũ Tuấn Anh (2012), Định đoạt phần vốn góp của thành viên trong doanh nghiệp bổn phận hữu hạn theo pháp luật vn, Luận văn Thạc sĩ luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội;

5. Ngô Huy Cương (2006), Góp phần bàn về canh tân pháp luật ở vn hiện giờ, NXB Tư pháp, Hà Nội;

6.Ngô Huy Cương (2015), Kỷ yếu tọa đàm Chế định của cải, bổn phận và giao kèo, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.